Nguyên tác :
sách "Les croisades vues par les arabes" - Thập tự dưới mắt
người Ả rạp. Nhà Xuất bản: JC Lattès, Paris, 1983.
Tác giả : Amin Maalouf.
Trích dịch : Lạc Hồ.
(coi Đuốc Thiêng từ số 3)
Chương 51/5: Tu-sĩ kháng chiến (tiếp theo)
Đảo chánh ở Alep, màn 1
Trong nhân dân Ả-rập, từ sau hai cuộc kháng chiến
thành công ở Ascalon và Tyr, một nhuệ khí
mới nổi lên. Số người Ả-rập lên tiếng chống đối ngày
càng thêm đông, chống bọn Tây-phương xâm
lăng đã đành, mà chống cả đa-số các cấp
lãnh-đạo của mình, chẳng những quá ư bảo thủ,
mà còn phản bội nũa. Nhất là ở Alep, thái
độ chống đối vượt quá mức "đánh võ miệng",
dân trong thành dưới sự lãnh đạo của Khachab, nhứt
định chính mình lo cho số phận mình. Nhưng trước
khi đến được mức này, Alep trải qua nhiều chuyện lao đao.
Cuối tháng 11 năm 1113, Khachab được tin là vua Redwan
đau nặng, chờ chết trong dinh, bèn tụ tập phe mình, chờ
sẵn. Ngày 10 tháng 12, khi được tin Redwan chết, Khachab
tung ra nhiều toán võ trang trong khắp thành phố,
chiếm các dinh thự quan trọng, lùng bắt phe đảng của
Redwan, nhứt là bọn đệ tử của giáo-phái Assassins,
giết hết bọn này vì tội hợp tác với quân
thù. (nơi vài trang sau, chúng ta sẽ hiểu
thêm về giáo phái này).
Mục đích của Khachab không phải là để nắm quyền
hành, vì y là tu sĩ, mà nhắm vào
việc gây ảnh hưởng trên Alp Arsan, con của Redwan, sẽ nối
ngôi cha. Khachab muốn rằng vua mới sẽ có đường lối mới.
Những ngày đầu, thấy như Alp Arsan nghe lời Khachab, y sai
bắt tất cả những người đã hợp tác với Redwan, đem chặt
đầu hết. Khachab đâu ngờ sanh chuyện quá tệ như vậy,
yêu cầu nương tay, chỉ giết những người phản bội mà
thôi. Alp Arsan không nghe, sai giết cả 2 người em
mình, giết hàng ngày những người nào y
không vừa mắt. Lần lần, dân trong thành khám
phá rằng Alp Arsan... điên.
Đảo chánh ở Alep, màn 2
Để giải quyết tinh hình, tháng 9 năm 1114, một hoạn quan
(thái giám) tên là Loulou giết Alp Arsan,
lập vua mới là một người con khác của Redwan, anh
này mới có 6 tuổi. Nhân cơ hội lộn xộn này,
nhiều toán cướp ra tay tàn phá, chẳng còn
an ninh trong thành phố, dân chúng từng khu phố
phải tổ chức võ trang để tự bảo vệ, tình hình
trong thành phố rất đen tối.
Quân Franj ở Antioche không bỏ qua cơ hội.Tancrède,
vua Antioche, đã chết 1 năm trước Redwan. Người nối nghiệp
là Roger. Năm 1116, Roger kiểm soát hết mọi ngả đường dẫn
vào thành Alep. Y không chiếm thành, nhưng
chiếm tất cả các pháo đài ở ngoài
thành, rồi với những dân trong thành đi ra
hành hương ở La Mecque, y bắt nộp tiền mới được đi.
Đảo chánh ở Alep, màn 3
Tháng 4 năm 1117, Loulou bị ám sát. Quyền
hành về tay một hoạn quan khác, anh này quá
khiếp nhược, cầu cứu với Roger để giúp tay lập lại trật tự trong
thành phố. Phe quân-nhân lăm-le nắm quyền
hành. Khouchab bèn nhóm họp các trưởng
lão, và họ quyết định mời một nhân vật có
tầm cỡ dến cai trị thành phố Alep. Nhân vật này
là tướng Ilghazi, đang cai-trị thành phố Mardin ở
vùng Mésopotamie. Ilghazi nổi tiếng là can đảm,
gia đình y đã từng cai-tri lâu năm Jerusalem, anh
em y là Sokman đã từng đánh thắng quân Franj.
Mùa hè năm 1118, Khouchab long trọng mở cổng thành
đón Ilghazi vô. Hành động đầu tiên của
Ilghazi là cưới con gái của vua Redwan, một hành
động tiêu biểu cho sự hợp tác hai bên, và
nhứt là để chính-thức-hoá nhiệm-vụ của Ilghazi.
Hành động tiếp theo, là chỉnh trang quân đội,
kéo đi đánh quân Franj. Từ khi quân Franj
xâm nhập vùng đất Á châu này đã
20 năm, đây là lần đầu tiên thành phố thủ
đô xứ Bắc-Syrie thấy có một lãnh-tụ mình
quyết tâm tranh chiến với quân Franj. Và Ilghazi
đã thắng. Ngày 28 tháng 6 năm 1119, nơi đồng bằng
Sarmada, ở giữa khoảng Alep và Antioche, quân 2
thành này đụng nhau, quân Antioche bị đánh
tan nát, chính Roger phơi thây giữa các
xác chết, với vết búa chém ngay sống mũi.
Chiến thắng Samarda.
Dân thành Alep ăn mừng chiến thắng, họ hò reo nơi
các quảng trường: "Lạy Chúa, sau Chúa,
chúng con chỉ trông cậy nơi Ilghazi". Đã bao
năm rồi, dân chúng thành Alep sống kinh
hoàng dưới tay Bohémond, rồi Tancrède, rồi Roger ;
nhiều người đã tính rằng số phận của họ mai mốt cũng sẽ
giống như dân thành Tripoli, là phải lựa hoặc chết,
hoặc di tản. Nay họ coi như được sống lại từ cõi chết.
Chiến thắng của Ilghazi gây hứng khởi trong toàn thể thế
giới Ả-rập. Thế giới này đang run sợ, quân Franj
quá khinh thường họ đến nỗi hồi tháng 3 năm 1118, vua
Baudouin đem quân đi đánh Egypte, mà chỉ huy động
vỏn vẹn có 216 kỵ binh và 400 bộ binh. Họ đã vượt
qua vùng Sinai, đã chiếm thành Farama cách
dễ dàng, đã đến bờ sông Nil, rồi Baudouin xuống tắm
ở sông Nil, như thể để chế riễu dân Egypte. Không
biết mọi sự cố sẽ tiếp diễn ra sao, nếu Baudouin không bất ngờ
lâm bịnh nặng, cả đoàn quân phải kéo về mau
mau, Baudouin chết ở nửa đường, nơi thành el-Arich, phía
bắc Sinai.
Thế giới Ả-rập còn đang bàng hoàng về cuộc
xâm nhập quá lẹ của Baudouin, thì nay lấy lại tinh
thần bởi chiến thắng Sarmada. Họ chờ mong Ilghazi sẽ thưà thắng
xông đến chiếm Antioche, lúc này đang mất
chủ-tướng. Quân Franj trong thành Antioche cũng chờ đợi,
lo phòng-thủ. Việc đầu tiên của họ là đối xử với
dân cơ-đốc gốc Syrie (tức là Ả-rập), cấm dân
này không được ra khỏi nhà, và phải đem nộp
những khí giới đang có trong tay. Phải làm thế,
vì sợ bọn này làm nội ứng cho Ilghazi. Nhưng tất
cả đều chờ đợi luống công, vì Ilghazi, vốn vẫn là
dân ghiền rượu, trở về say sưa suốt 20 ngày để ăn mừng
chiến công, khi tỉnh ra thì được tin là Baudouin 2,
vua mới của Jerusalem, đã kéo quân đến Antioche.
Ilghazi co cụm lại trong thành, 3 năm sau chết.
Chiến công của Balak.
Người kế vị Ilghazi là Balak. Anh này là
cháu của Ilghazi, nhưng tâm tình khác hẳn.
Chỉ trong vài tháng, các đền hồi-giáo,
các quảng-trường đều vang lên lời ca ngợi chiến công
của y.
Như trên đã kể, Baudouin 2 về làm vua ở Jerusalem,
để thành Edesse lại cho tướng Jocelin. Barak lập kế bắt sống
được Jocelin.
Sử gia Ibn al-Athir chép "Barak sai bọc Jocelin trong một tấm da
lạc đà, khâu chặt lại, rồi ai xin đem vàng bạc tới
chuộc về, y cũng từ chối, lại còn giam Jocelin trong pháo
đài". Thế là thêm một thành cơ-đốc mất chủ
tướng, (mới trước đây là thành Antioche mất tướng
Roger).
Baudouin 2 đang ở Antioche,nghe tin dữ, bèn về Edesse tham khảo
tình hình. Quân kỵ-binh ở Edesse đưa Baudouin đi
quan-sát nơi Jocelin bị bắt, là một vùng đầy
sình lầy ở ven sông Euphrate. Baudouin đóng
trại lại đấy, ngủ qua đêm, sáng hôm sau dậy sớm đi
săn bằng chim ó, kiểu săn này là y học được nơi
các vua chúa đông phương. Cuộc săn đang diễn ra vui
vẻ thì Barak xuất hiện, bắt sống Baudouin 2.
Sau 2 chiến công đặc biệt này, Barak làm như
Ilghazi, cưới con gái vua Redwan, rồi ra tay chiếm lại hết
các pháo đài xung quanh Alep. Cung cách của
Barak, khôn ngoan, quyết định nhanh, không hiệp-tác
với quân Franj, thật khác hẳn với đa số các
lãnh-tụ hồi-giáo.
Mất thành Tyr.
Lúc này, quân Franj đến bao vây thành
Tyr, mặc dầu vua quân Franj đã bị Barak bắt. Dân
thành Tyr thấy có hy-vọng lớn nơi Barak, họ xin Barak mau
mau đến cứu họ.Barak đang cầm quân bao vây một thành
lân cận, là Manbij, để bắt chủ thành này về
tội phản nghịch. Khi thấy đại-biểu dân thành Tyr đến cầu
cứu, Barak giao cho bộ hạ mình tiếp tục cuộc bao vây, để y
kéo quân đi giải vây cho thành Tyr.
Ngày 6 tháng 5 năm 1124, trước khi lên đường đi
Tyr, Barak đảo một vòng kiểm tra cuộc bao vây Manbij,
thì bị bắn chết vì một mũi tên từ trong
thành Manbij bắn ra.
Nghe tin Barak chết, dân thành Tyr chỉ còn một nước
là xin đầu hàng với vài điều kiện được quân
Franj chấp thuận. Sử-gia Qalanissi chép "Ngày 7
tháng 7 năm 1124, giữa hai hàng quân Franj,
dân thành Tyr lặng lẽ ra đi, không bị hành
hạ. Trừ vài người tàn tật ở lạI, tất cả đều ra đi,
quân nhân hay thường dân. Họ về Damas,hoặc đi tản
mát trong xứ".
Dân thành Tyr thoát được cơn biển máu, nhưng
thật là nhục nhã sau khi đã kháng chiến
cách oai hùng.
Lại thắng quân Franj ở thành Alep.
Chẳng phải chỉ có dân thành Tyr chịu khổ về nỗi
Barak chết. Ở Alep, quyền hành nay về tay Timourtach, con trai
Ilghazi, 19 tuổi, theo lời sử-gia Athir, "chỉ lo chơi, rồi khi thấy ở
Alep cứ phải lo chuyện chống quân Franj, bèn dời về
quê mình, là thành Mardin". Chẳng những bỏ
thành phố, y còn cho vua Baudouin được tha về, sau khi
nộp tiền chuộc 20 ngàn dinars, một hành động vô
trách-nhiệm, vì chỉ sau vài tuần, Baudouin
kéo quân đến vây thành Alep, đòi ăn
thua đủ.
Cuộc phòng thủ Alep lần này, lại vẫn là Khachab
lo, dưới tay chỉ có vài trăm quân sĩ, làm
sao chống lại hàng ngàn quân Franj? Khachab sai sứ
giả đi Mardin trình bầy tình hình, xin Timourtach
đừng bỏ Alep. Bực mình vì sứ giả nói lải nhải, y
sai bỏ tù sứ giả.
Khachab bèn quay về phiá thành Mossoul,
thành này có chủ tỉnh mới, là tướng
al-Borsoki. Tháng giêng năm 1125, quân Franj ở trước
thành Alep thấy quân của Borsoki đến, họ hốt hoảng bỏ
chạy, không kịp tháo lều. Khachab tha thiết yêu cầu
Borsoki đem quân đuổi theo quân Franj để tiêu diệt
luôn, nhưng Borsoki không nghe, vừa phần y mệt, vừa phần y
muốn quan sát thành phố mới vào tay mình.
Và y cũng làm như Ilghazi 5 năm trước, là ở lỳ
trong Alep. Dầu vậy, chiến thắng này làm hai thành
Alep và Mossoul liên minh với nhau thành một quốc
gia hùng mạnh, khởi đầu cho cuộc chiến thắng quân Franj về
sau.
Khachab chết.
Chúng ta đã biết về lòng nhẫn nại, chí
cương quyết, và nhất là óc sáng suốt của
Khachab, chẳng những đã cứu được thành phố mình
khỏi tay quân Franj, mà còn sửa soạn cho cuộc
thánh chiến sẽ thành công. Tiếc thay là
Khachab không được chứng kiến ngày vinh quang ấy.
Mùa hè năm 1125, sau giờ cầu nguyện buổi trưa trong đền
thờ lớn ở Alep, Khachab đi ra thì bị dao đâm ngay giữa
ngực, bởi một người trá hình là thầy tu. Kẻ
này là thành viên của giáo
phái Assassins, y giết Khachab để trả thù về chuyện
Khachab đã sai giết rất nhiều người thuộc giáo
phái này. Chắc hẳn Khachab cũng dư biết rằng sẽ có
ngày mình chết về tay họ, bởi vì ai cũng biết từ
hai ba chục năm nay, chẳng có kẻ thù nào của
Assassins thoát chết.
Giáo phái Assassins.
Sau đây là vài hàng về giáo
phái Assassins. Giáo phái này được
thành lập năm 1090 bởi Hassan as-Sabbah, tín đồ
hồi-giáo thuộc ngành chiite.(Hồi giáo có 2
ngành: chiite và sunnite, hai ngành này vẫn
xung khắc nhau, nhiều khi gây chiến tranh đẫm máu).
Hassan là dân xứ Syrie. Đến tuổi thanh-niên, y thấy
xứ Syrie bị lọt vào tay triều đại Seldjoukides, theo
ngành sunnite. Hassan không chịu, lập đảng chống lại.
Hành động võ trang đầu tiên, là năm 1090,
quân y chiếm được pháo đài Alamout, nơi một
vùng hiểm trở gần bên biển Caspienne, vẫn nổi danh
là "không ai có thể chiếm được".
Thành viên giáo phái Assassins phải theo
những khoá huấn luyện rất gay gắt, cả về giáo lý,
cả về quân sự, và họ ưa dùng chiến thuật hạ
sát. Khi đã định sẽ giết ai, họ sai thành
viên đi, thường là đi một mình, trá
hình là lái buôn, là thầy tu, đến
quan sát nơi ở và cách sống của nạn nhân
tuơng lai, rồi ra tay khi thuận tiện. Chương trình của họ
thì rất bí mật, nhưng lúc ra tay thì phải
giữa công chúng, càng đông người thấy
càng tốt. Do đó, địa điểm thường là đền thờ,
ngày giờ thường là giữa trưa ngày thứ sáu.
Với Hassan, hạ sát không chỉ là chuyện tiêu
diệt kẻ thù, nhưng điều quan trọng hơn, là cho công
chúng biết 2 điều: một hễ là kẻ thù của
giáo phái thì phải chết, hai là giáo
phái có những anh hùng "fedai", nghĩa là
"tự nguyện đi chết" (như thể danh từ kamikaze hiện nay), bởi vì
trong hầu hết mọi trường hợp, kẻ sát nhân bị giết ngay tại
chỗ.
Thấy những thành viên này vui lòng đi chết,
dư luận thời đó cho rằng họ ghiền ma tuý "haschich",
nêu kêu họ là "haschischiyoun", hoặc
"haschaschin", danh-từ này về sau biến thể thành ra
"Assassin", còn mãi cho tới ngày nay.
Hassan tính rằng phải kiếm một địa bàn hoạt động ở
vùng đồng bằng, và y nhắm vào thành Alep. Y
sai nhiều thành viên đến Alep, kiếm cách
thân-cận tiểu-vương Redman, và để tỏ ra tận-tâm
phụng-sự Redman, họ hạ sát nhiều kẻ thù của tiểu-vương.
Họ được lòng tiểu-vương, đến nỗi sử-gia Kamaleddin chép
"nhân dân thành Alep muốn xin ơn huệ của tiểu-vương,
dù chỉ là chuyện nhỏ xíu, phải gặp trước những
thành-viên Assassins, lúc này đầy dẫy trong
thành phố, bao quanh tiểu-vương".
Nay họ bị dân chúng ghét, vì cớ họ có
quyền thế. Đặc biệt là tu-sĩ Khachab, cứ luôn luôn
yêu cầu dẹp họ đi, chẵng những vì họ lạm dụng quyền thế,
nhưng tệ hơn nữa, là vì họ có cảm tình với
quân Tây-phương xâm lăng. Mới nghe thì lời
cáo buộc này có vẻ ngược đời, nhưng thật ra
có lý. Khi họ mới đến vùng Syrie, dân
chúng kêu họ là "batini", nghiã là kẻ
giả hình,chỉ có bề ngoài là
hồi-giáo. Chúng ta nhớ rằng tiểu-vương Redman chịu phục
quân Franj cách quá lố; một phần lớn chắc là
vì nghe các cố vấn "batini".
Với Khachab, bọn "batini" đúng là quân phản bội,
cho nên khi Redman vừa mới chết, y truy nã để diệt bọn
này, trong khắp các phố, khắp các nhà, kẻ
thì bị đám đông đập hội đồng, kẻ thì bị đưa
lên đầu tường thành quăng xuống, chết khoảng gần 200
người. Nhưng theo sử-gia Qalanissi "nhiều người trốn thoát được,
đến ngụ nơi quân Franj, hoặc tản cư đi trong xứ".
Giáo phái Assassins còn hoạt động ở nhiều
thành phố khác trong xứ Syrie. Ngày 26
tháng 11 năm 1126, họ giết Borsoki ở Mossoul, kẻ đã thắng
quân Franj trước thành Alep hồi tháng giêng
năm 1125. Con trai Borsoki lên kế nghiệp cha, được vài
tháng, cũng bị họ giết. Giáo phái này cũng
rất có ảnh hưởng ở thành Damas, được lòng
tiểu-vương Toghtekin, họ có người trong các cơ quan
hành chánh, họ có đoàn cảnh sát
riêng. Mazdaghani, cố vấn tối cao của tiểu-vương, hoàn
toàn theo phục họ, cố vấn này còn liên lạc
chặt chẽ với quân Franj.
Đầu năm 1128, tiểu vương Toghtekin lâm bịnh nặng, chỉ định con
trai là Bouri nối ngôi, rối chết ngày 12
tháng 2. Dân thành Damas đinh ninh rằng chẳng bao
lâu nữa thành Damas sẽ vào tay quân Franj.
Nhưng may thay, gió sẽ trở chiều, như lời sử gia Athir
"Toghtekin chết rồi, thế là chẳng còn ai nữa đứng đối đầu
với quân Franj, họ sẽ chiếm hết cả xứ Syrie. Nhưng Đức
Chúa Trời đầy nhơn-từ sẽ thương xót dân
hồi-giáo". Đây là chuyện ta sẽ thấy trong chương
sau.